(QBĐT) - Bà Nguyễn Thị Khíu sinh năm 1932 ở vạn chài thuyền làng Phú Mỹ, một vạn chài sống du cư trên sông Nhật Lệ. Sau này, khi xóm Dừa tức làng Mỹ Cảnh hiện nay, được dân làng Trung Bính (xã Bảo Ninh) ra trồng dừa mà phát triển thành làng xóm đông đúc thì vạn thuyền này lên định cư ở xóm Dừa. Xóm Dừa này do chủ trương của cụ Huỳnh Côn, một vị đại khoa làng Trung Bính và là Thượng thư triều Nguyễn, cùng với cụ Phạm Xứng là Tứ Thượng thư (mỗi vị được vua Tự Đức phong hai chức Thượng thư (ngang Bộ trưởng hiện nay).
Khoảng năm 1820, cụ Huỳnh Côn nhân chuyến đi về Trường Sa (tức Bảo Ninh hiện nay) tìm đất đặt mộ cải táng cho thân phụ, nhận thấy vùng đất bên hữu ngạn Nhật Lệ, sát cửa biển có địa hình đẹp, bằng phẳng và rộng rãi, rất thuận tiện làm ăn mà vẫn còn hoang vắng nên đã đề nghị các quan chức làng Trung Bính đệ đơn xin Tri phủ Quảng Ninh cho dân làng Trung Bính ra đây trồng dừa vừa để sinh sống, vừa để giữ đất và đã được Tri phủ chấp nhận. Từ đó, dân các làng Phú Mỹ, rồi Trung Bính, Sa Động của xã Bảo Ninh di cư ra đây sinh sống, đi biển, dần dần đổi tên là thôn Mỹ Cảnh. Từ một xóm Dừa chỉ có vài chục hộ, đến nay, Mỹ Cảnh đã có đến hơn 400 hộ dân, dân tình an lạc và trở nên giàu có.
Năm 1944-1945, nạn đói khủng khiếp đã xảy ra và cụ thân sinh của bà Nguyễn Thị Khíu qua đời, dân vạn thuyền đã đưa gia đình bà lên bờ định cư ở xóm Dừa.
Trong thời cách mạng và kháng chiến, dân làng Mỹ Cảnh một lòng đi theo Đảng. Phong trào hợp tác hóa phát triển những năm 1959-1961, thôn Mỹ Cảnh có những tập đoàn nhỏ sản xuất nghề đánh cá, đã tiến lên thành hợp tác xã. Thời đó, nghề biển chỉ có đàn ông, thanh niên mới đi biển, còn đàn bà, con gái ở nhà. Bà Khíu có suy nghĩ chị em phụ nữ nên đi làm để tăng thêm kinh tế gia đình.
![]() |
| Các nữ Anh hùng Quảng Bình: Nguyễn Thị Suốt, Nguyễn Thị Khíu, Trần Thị Lý, tại Đại hội anh hùng chiến sỹ thi đua tổ chức tại Ba Rền năm 1967. (Ảnh tư liệu) |
Sau đó bà đã mang ý nghĩ đó bàn với chị em trong thôn và được mọi người đồng tình, chị đã đi gặp Ban quản trị bàn hợp tác xã, xin cho một số chị em tham gia xã viên đánh cá. Đây là một ý kiến rất hay, rất mới nên đã được chi bộ Đảng chấp nhận. Thế là hợp tác xã đánh cá Mỹ Cảnh có thêm ba xã viên nữ, trong đó có bà Khíu. Làm ăn với các xã viên nam, các chị cũng không thua kém gì họ, nhưng chỉ được hưởng một nửa phần công điểm như nam. Thấy đây là sự bất hợp lý, nên bà đã đề nghị Ban quản trị cho phép chị em phụ nữ lập đội thuyền đánh cá riêng và cam đoan bảo đảm mức khoán của HTX. Lúc đầu, Ban quản trị còn băn khoăn do sức khỏe của chị em phụ nữ kém hơn nam giới, nhưng cuối cùng cũng phải chấp nhận thành lập đội đánh cá nữ mang tên Minh Khai do bà Nguyễn Thị Khíu làm đội trưởng.
Từ một chiếc thuyền đánh cá, đội Minh Khai phát triển ra thành 6 thuyền. Trong những năm 1961-1965, đội Minh Khai đạt được kế hoạch nhà nước, được xếp thứ nhì trong HTX, chỉ thua đội mành dã đôi. Thu nhập bình quân của các chị thường cao hơn các xã viên nam hơn 10%.
Ngày 6-2-1965, giặc Mỹ bắt đầu cuộc chiến tranh đánh phá Đồng Hới. Theo chủ trương của Đảng ủy phải giảm bớt mật độ dân số để bảo đảm an toàn, đội nữ Minh Khai được lệnh phân tán một số chị em đông con lên vùng quy định của xã, chuyển hướng làm ăn. Bà cùng các chị em còn trẻ ở lại làng, bám đất, bám làng, vừa sản xuất, vừa chiến đấu.
Ngày 4-4-1965, đội Minh Khai ra khơi đánh cá, máy bay Mỹ ồ ạt đánh phá Đồng Hới. Thuyền của bà bị bắn gãy cột buồm. Một xã viên đề nghị bà hạ buồm xuống quay về nhưng bà nói: “Thuyền của đội trưởng mà về thì ai còn ở lại, HTX lấy gì mà giao nộp sản phẩm cho nhà nước? Phải bám biển làm lẽ sống". Noi gương thuyền của bà, các thuyền khác cũng tiến thẳng đến ngư trường tiếp tục đánh cá. Máy bay Mỹ vẫn hung hăng đánh phá, một thuyền bạn bị bắn trọng thương, bà kêu gọi chị em đến cứu. Thuyền bạn có 6 người, bị thương 4 người, 2 người chết. Bà cho các chị em băng bó vết thương đưa người vào bờ.
Sau trận bị bắn phá ấy, bà Khíu nghĩ ra một cách là buộc hai bên mạn thuyền một số dây thừng, mỗi dây có buộc thêm một hòn đá đủ nặng, khi bị máy bay bắn thì ôm đá mà nhảy xuống biển, khi lên thì theo dây mà lên khỏi mất phương hướng, do đó hạn chế được thương vong, chị em đều an tâm bám biển. Với ý chí sống chết vì tập thể, cương quyết bám biển sản xuất, bà trở thành con chim đầu đàn của nghề biển Bảo Ninh, được mọi người mến yêu.
Năm 1966, tại Đại hội thi đua toàn quốc bà được Nhà nước tặng danh hiệu “Anh hùng chống Mỹ cứu nước” của ngành Thủy sản. Bà đã được gặp Hồ Chủ tịch cùng với mẹ Nguyễn Thị Suốt. Trong thời bình, bà vẫn tích cực tham gia các công tác ở địa phương, đến năm 2009 thì bà qua đời.
Nguyễn Thị Khíu là một người phụ nữ kiên cường, quyết tâm phục vụ quê hương, thật đáng ca ngợi.

No comments:
Post a Comment